Ca chiều còn 14 phiếu chờ đối soát
Phiếu khóa tạm được xếp trước phiếu hỏi hạn mức. Số liệu lấy từ biên bản ca gần nhất.
Bàn trực giữ mạch phiên khi OTP tới chậm, thiết bị đổi hoặc cổng báo khóa tạm. Mỗi ca gắn mã đối soát, đối chiếu trạng thái tài khoản và trả thời điểm mở lại đúng biên bản.
Phiếu khóa tạm được xếp trước phiếu hỏi hạn mức. Số liệu lấy từ biên bản ca gần nhất.
Nhân sự không đoán trạng thái. Mỗi nhịp bám mã phiên, tên thiết bị và mốc thời gian cổng ghi nhận.
Mã ca, mốc mở cổng và trạng thái hội viên nằm trên cùng một dòng biên bản.
Thiết bị lạ bị giữ ở cửa phiên cho tới khi dấu hiệu trùng với hồ sơ hội viên.
Sai mật khẩu liên tiếp chuyển sang khóa ngắn. Mốc mở lại ghi rõ trong phiếu.
Hạn mức và số dư chỉ lấy theo phiên thực tế, không ước lượng ngoài ca.
Tỷ lệ dưới đây là phần phiếu còn mở của ca gần nhất, không phải cam kết của ca sau.
Mã hết hạn trước khi hội viên nhập. Ca ghi nhà mạng và mốc gửi.
Ưu tiênCổng giữ phiên khi vị trí hoặc máy mới lệch hồ sơ thường dùng.
Đang giữỞ lâu ngoài cổng làm rơi mạch. Bàn trực mở lại đúng tài khoản gốc.
Ổn địnhNhiều lần sai mật khẩu kích hoạt khóa ngắn, có giờ mở trong biên bản.
Khóa ngắnCa giao bàn bằng biên bản, không chuyển miệng. Phiếu chưa đóng đi cùng mã phiên.
Cùng một sự cố đăng nhập, hạng cao hơn được gọi mã ca sớm hơn. Mốc dưới là mục tiêu ca gần nhất.
Phiếu OTP và phiên hết hạn đi theo thứ tự giờ gửi.
Thiết bị lạ được đối soát song song với khóa tạm.
Mã phiên ưu tiên khi cổng báo giữ tài khoản giữa giờ cao điểm.
“Ca chiều trả đúng giờ mở. Mình vào lại bằng thiết bị quen, số dư khớp biên bản phiên.”
“Bàn trực ghi mốc gửi, không yêu cầu đọc lại mã cũ. Phiên mới mở sau bảy phút.”
“Thiết bị lạ khớp hồ sơ rồi mới nhả. Hạn mức trong ca không đổi ngoài biên bản.”
Bàn trực không nhận mật khẩu, không nhận mã OTP và không nhận số thẻ. Chỉ nhận mã ca cùng mô tả sự cố.
Ca trực đang nhận phiếu khóa tạm và OTP chậm.
Mở phiếu ca mới